Kính lễ chư tôn đức Tăng-Ni, chào mừng Quý Phật Tử thiện nam tín nữ ghé thăm trang Phổ Môn Thị Hiện. Kính chúc mọi người thảy điều được Phúc Lạc Bình An trong sự chở che của mười phương Tam Bảo cùng đức Quán Thế Âm Bồ-tát.

HỖ TRỢ
Yahoo Skype
  
   Truy cập :  
 Đang Online :  
Ấn Phẩm

Cách hành trì đại bi tâm chú thiên thủ nhãn

Thứ năm, 23/10/2014, 19:43 GMT+7

 

CÁCH HÀNH TRÌ ĐẠI BI TÂM CHÚ THIÊN THỦ NHÃN

                                      Tôn giả Tứ Minh-Tri lễ soạn

                                      Dịch giả: Tỳ-kheo Thích Minh Kiết

 

Lời Giới Thiệu

Chú Đại Bi và Sám Đại Bi đều có chung một nguồn, đều được rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà-la-ni. Chú Đại Bi là phần chính yếu của kinh Đại Bi Tâm Đà-la-ni. Theo Kinh này thuật lại, cách đây hằng hà sa số kiếp về trước có đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Đức Phật đó đã vì thương tưởng đến Đức Quán Thế Âm Bồ-tát và tất cả chúng sanh nên nói thần chú Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni này. Đức Phật Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ đã từ mẫn xoa đảnh Quán Thế Âm Bồ-tát và căn dặn Bồ-tát hãy thọ trì tâm chú này và nên vì tất cả chúng sanh trong đời ác sau mà làm đại lợi lạc cho họ! Sau khi nghe đức Phật Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai nói bài Chú này xong, thấu hiểu pháp Đại Bi này có năng lực vô cùng to lớn, có thể tiến tu đạt đến thành Phật và là phương tiện cứu cánh để cứu độ chúng sanh không chỉ về phương diện khổ nạn mà còn có thể dẫn dắt chúng sanh thẳng tiến đến thành Phật, ngay nơi đó Quán Thế Âm Bồ-tát sanh tâm vui mừng chưa từng có, lập tức từ quả sơ địa Bồ-tát chứng ngay đến quả địa thứ tám, đồng thời bấy giờ Bồ-tát liền phát nguyện "Nếu như sau này mà con có thể làm lợi ích, an lạc cho tất cả chúng sanh thì xin hãy khiến cho thân con tức thời đây sanh ra đủ ngàn tay ngàn mắt. Phát nguyện xong, đúng lúc đó thân con có đủ ngàn tay ngàn mắt, mười phương đại địa, chấn động sáu cách; mười phương ngàn Phật thảy phóng ánh sáng, chiếu lên người con và chiếu vô biên cõi nước khắp mười phương."

Một bài Chú Đại Bi mà có oai lực có thể khiến cho một người mới phát tâm tu đạo Bồ-tát (sơ địa)  vừa nghe xong liền chứng đến đại thứ tám (bát địa), trụ trong địa này, Bồ-tát có thể vận dụng trí tuệ vô lậu quán chiếu tương tục mà không bị lay động bởi phiền não bên ngoài; không những thế, sự phát nguyện đem đến lợi ích và an lạc cho chúng sanh đời sau, lời thệ nguyện được xuất phát từ tâm thương xót tha thiết của Bồ-tát đã xác định sự thật qua việc trên thân của Bồ-tát hiện ra ngàn tay mắt, điều này nói lên lời thệ nguyện của Bồ-tát là sự thật và cũng minh chứng về sức oai thần của thần Chú Đại Bi này..

Đại Bi Sám nói cho đủ là "Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Chú Hành Pháp" là sám pháp do đại sư Tri Lễ 960-1028 soạn. Sư là vị cao Tăng đời Bắc Tống, họ Kim, mười lăm tuổi thọ giới cụ túc. Ngài còn có pháp hiệu là Pháp Trí, là tổ thứ mười bảy của tông Thiên Thai. Ngài đã hành pháp sám hối suốt bốn mươi năm. Riêng Đại Bi Sám ngài hành trì suốt ba năm, đốt 3 ngón tay cúng dường Phật.

Vì thấy công năng của chú Đại Bi rộng lớn, muốn lưu truyền nơi đời nên ngài đã soạn ra Đại Bi Sám pháp này. Ngài lấy chú Đại Bi làm trọng tâm, chọn lấy cách tu trì trong kinh Đại Bi Tâm Đà-la-ni, dẫn dùng tam muội Phi hành phi tọa trong Ma-ha Chỉ Quán, chế thành bộ sám nghi đủ đầy sự lý, đó là Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Chú Hành Pháp này đây (tức là Đại Bi Sám Pháp).

Đến cuối đời nhà Minh, đầu nhà Thanh có luật sư Độc Thể, hiệu là Kiến Nguyệt (1600-1679), rút gọn bản sám nghi này, bỏ bớt cách phân loại mười khoa, sắp xếp lại cách tổ chức, đặt tên lại là Đại Bi Sám Nghi.

Vào niên hiệu Nhân Tông - Gia Khánh thứ hai mươi bốn đời nhà Thanh (1819), đại sư Tịch Xiêm đã chỉnh lý biên tập lại bản mới, thành bản sám hối thông hành hiện nay.

Đại Bi Sám của ngài Tri Lễ có đủ đầy hai phần sự nghi lý quán, y theo cách hành trì một kỳ sám hối đủ hai mươi mốt ngày. Đến đời Minh, Thanh, ngài Châu Hoằng, Tịch Xiêm san định lại, bỏ đi phần lý quán, là điểm đặc sắc quan trọng của tông Thiên Thai, chỉ còn giữ lại phần sự nghi, bởi thế sự hiệu nghiệm và đắc dụng của sám hối không nhiều và đủ mạnh để diệt nghiệp.

p.Sau khi hành sám pháp này một thời gian dài, tìm tòi nghĩa lý sâu rộng của nó khắp các nơi, tôi nhận thấy không nên bỏ đi phần sám nghi do tổ Tri Lễ soạn. Thật ra mà nói, nếu bỏ đi phần lý quán thì không thể gọi là pháp sám hối, vì "Tội từ tâm khởi" không quán tâm thì lấy gì sám hối dứt trừ nghiệp xưa? Vả lại, người tu hành chỉ cầu an tâm giải thoát, không nệ hà gì nhọc mệt hành trì, vì thế riêng tôi rất thích và chỉ sám bằng nghi sám của tổ Tri Lễ, dù nó dài và "nhọc" hơn sám kia.

Nay nhân dịch quyển sám pháp này thành lời Việt, để cho mọi người tiện đọc, hành trì, qua đó biên mấy lời giới thiệu sơ để người hành trì biết. Còn về nghĩa rộng, xin xem trong phần sám này và quyển "Giảng Giải Đại Bi Sám".

Viết xong ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ-tát năm Giáp Ngọ, tại chùa Phổ Giác, Hóc Môn.

                                      Tỳ-kheo Thích Minh Kiết kính đề

 

Lời Tựa

Đại Đà-la-ni này, ngay từ thuở còn để chỏm, tôi đã biết đọc tụng, lại còn rành cách hành trì. Sau này học theo Thiên Thai Giáo Quán, suy tìm lời kinh, quán rõ sự nghi, đủ để hành trì, cho nên lược nêu ra. Thật sự tôi có thể theo quy tắc của riêng mình, nhưng Ngài Trí Giả có lập ra nghi thức hành trì gồm bốn loại. Bốn loại đó là gì?

1. Thường ngồi :Là Nhất hạnh tam-muội của kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn.

2. Thường đi:Là Phật Lập tam-muội (bát-chu tam-muội) của kinh Bát Chu.

3. Nửa đi nửa ngồi:Như Đản trì tam-muội (ma-ha đản trì đà-la-ni) và Phổ Hiền tam-muội của hai kinh Phương Đẳng và Pháp Hoa.

4. Chẳng phải đi chẳng phải ngồi:Nghĩa là tu theo cách hành trì của các kinh, và trãi qua tu quán thiện, ác, vô ký. Những thứ này đều gọi là Tùy tự ý tam-muội.

Như căn cứ theo kinh này (Thiên Thủ Thiên Nhãn) thì không có chế định chuyên về ngồi. Chỉ có đi và nửa ngồi nửa đi, và cũng chẳng phải quán tu ba tánh (thiện, ác, vô ký) đang hiện hành. Theo trong kinh, phải trong hai mươi mốt ngày y theo pháp mà trì tụng, bởi vì trong Tùy tự ý tam-muội cũng y theo cách hành trì của các kinh.

 Nay Tôi y theo kinh này ( Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn) mà rút ra mười ý. Một là trang nghiêm đạo tràng. Hai là làm sạch ba nghiệp. Ba là kết giới. Bốn là cúng dường. Năm là thỉnh Tam bảo chư thiên. Sáu là Ngợi khen. Bảy là đảnh lễ. Tám là phát nguyện trì chú. Chín là sám hối. Mười là tu quán hạnh. Vẫn phải dùng phần bổ trợ quán tưởng của Pháp Hoa Tam-muội. Có chú thích dưới phần sự nghi, để cho người tu khỏi tra xét văn khác.

1.    Trang Nghiêm Đạo Tràng:

Trong Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn có ghi: "Ở nơi tịnh thất, treo phang thắp đèn; hương hoa, thức uống đồ ăn cúng dường."  Nghi thức Thỉnh Quán Âm trong Thiên Thai Bách Lục có nói: "Nên trang nghiêm đạo tràng bằng bùn thơm bôi lên đất, treo các tràng phang bảo cái, an trí tượng Phật về hướng nam. Riêng tượng Quán Âm thì day về hướng đông". Ở đây nên đặt tượng Thiên Thủ Nhãn Quán Âm, hoặc tượng Quán Âm bốn mươi tay. Nếu như không có tượng này thì có thể dùng tượng Quán Âm sáu tay, bốn tay hoặc còn không thì hình tượng Quán Âm không cũng được. Không thượng thêm tượng đức Phật Thích Ca, Đại Thế Chí v.v…cũng được.

Hành giả từ mười người trở lại day mặt về hướng tây, trải chiếu ngồi. Nếu như chỗ ngồi ẩm ướt thì kê thêm cái bục thấp. Ngày nào cũng phải hết sức cúng dường. Nếu như không đủ khả năng thì ngày đầu tiên phải làm cho được. "Vô Thí Phụ Hành" có nói: "Tuy tâm khẩu tinh thành nhưng cần phải nhờ phước trợ giúp." Ngày nào cũng làm như vậy để phụ thêm, vì sợ sức không đủ. Như ngày đầu, trước hết cần phải nhờ vào tiền của để trợ giúp. Kinh đây có dạy: "Nếu có chúng sanh nào hiện đời cầu nguyện điều chi, thì trong hai mươi mốt ngày giữ kỹ trai giới, tụng Đà-la-ni này, ắc sẽ được như sở nguyện." Theo như cách tu đây thì một kỳ phải đủ hai mươi mốt ngày. Nhất định không được giảm chuẩn. Theo Pháp Hoa Tam Muội thì trước khi tu, trong bảy ngày đầu phải hành pháp phương tiện, khiến cho sự, nghi, lý, quán thảy đều tinh thuộc. Nhưng cũng phải cầu chư Phật gia hộ để không bị chướng ngại.

2.   Tịnh Ba Nghiệp

Kinh dạy rằng: "Người tụng thần chú này phải phát tâm bồ-đề rộng lớn, thệ độ tất cả chúng sanh, thân trì trai giới, trụ ở tịnh thất, tắm rửa sạch sẽ, pháp phục tề chỉnh, để tâm một chỗ, không nghĩ ngợi điều gì khác." Pháp Hoa Tam Muội có dạy: "Bước đầu tiên, khi vào đạo tràng, hành giả phải dùng nước thơm tắm gội, đắp y sạch sẽ, mặc đại y hoặc các y mới nhuộm. Nếu không có y mới thì nên lấy y sạch đẹp nhất trong các y đã mặc để vào đạo tràng. Sau khi hành lễ xong, nếu muốn rời khỏi đạo tràng hoặc đến những nơi không sạch sẽ thì nên cởi y sạch ra, mặc y dơ vào, khi xong việc rồi thì nên rửa tay sạch, mặc y trước vào rồi trở vào đạo tràng. Đây là phép tắc vào đạo tràng (những lời trên là ở trong Pháp Hoa Tam-muội) dù là một ngày cũng không được để dơ, cần phải tắm rửa cho sạch sẽ.

Trong suốt thời gian trì tụng, phải chuyên tâm không được nói lời tạp nhạp và tất cả những thứ như: tìm hiểu, dò xét hỏi thăm chuyện này chuyện kia v.v…Trong suốt thời gian tu đó, phải y theo lời kinh mà quán tưởng, không được để cho có một niệm sát-na nào nghĩ đến việc đời.

Hoặc những thứ cần dùng như đồ ăn thức uống cũng cần phải nhờ trợ giúp, chớ để tán tâm. Xong việc phải trở về đạo tràng ngay, không được mượn cớ nấn ná lại. Đại để là nói về thân thì có khai giá, miệng thì nói im, ý thì chỉ quán. Người tu theo pháp này cần phải nương theo bậc minh sư, khi đã bẩm thi biết rồi thì lúc ấy mới có thể hành. Cẩn thận chớ có tự tiện.

3.   Kết Giới

Hành giả trong ngày đầu tiên lập đàn, trước khi lễ kính nên đến nơi tu hành (nơi định lập đàn pháp trì chú) như pháp mà kết giới. Kinh dạy rằng: "Cách kết giới là lấy con dao, chú vào đó hai mươi mốt biến (chú Đại Bi) rồi vẽ lên đất làm giới; hoặc dùng nước sạch chú vào đó hai mươi mốt biến, rồi rưới khắp bốn phía; hoặc dùng hạt cải trắng, chú vào đó hai mươi mốt biến, rồi ném vào bốn phía để làm giới; hoặc dùng nghĩ tưởng đến chỗ nào đó làm giới; hoặc dùng tro sạch, chú vào đó hai mươi mốt biến làm giới; hoặc chú vào sợ chỉ năm màu hai mươi mốt biến rồi quấn vòng bốn phía làm giới đều có thể được." Nếu như thọ trì đúng pháp thì sẽ được kết quả. Trong kinh có dạy mình được tùy ý chọn những cách này.

4.    Cúng Dường

Hành giả như pháp kết giới rồi, đến trước tượng Thiên Thủ Nhãn, trãi tọa cụ, quỳ xuống, nghĩ đến Tam bảo và pháp giới chúng sanh cùng với thân tâm mình không hai không khác. Chư Phật đã ngộ, chúng sanh còn mê, ta vì chúng sanh phá trừ mê chướng nên đảnh lễ Tam Bảo. Nghĩ như vậy rồi miệng nên xướng rằng:

Dốc lòng cung kính:

Nhất tâm đảnh lễ: Hết thảy Tam bảo thường trú trong mười phương.(lạy xong, thắp hương, rãi hoa, vị chủ lễ quỳ xướng)

                             Đệ tử chúng con

                             Cả thảy đồng quỳ

                             Nghiêm trì hương hoa

                             Như pháp cúng dường.

                             Nguyện mây hương hoa nầy

                             Xông khắp mười pháp giới

                             Tất cả các cõi phật

                             Vô lượng hương trang nghiêm

                             Đầy đủ bồ-đề đạo

                             Thành tựu Như Lai hương.

(Đến đây nghĩ rằng: hương hoa con cúng khắp mười phương, kết thành đài sáng rực vi diệu, âm nhạc hương báu của chư Thiên, y báu món ngon của chư Thiên, bất khả tư nghì diệu pháp trần (bụi trần) mỗi hạt trần hiện tất cả trần, mỗi một trần hiện tất cả pháp, xoay chuyển vô ngại trang nghiêm nhau, đến khắp mười phương trước Tam bảo, trước Tam bảo pháp giới mười phương, thảy có thân con hiện cúng dường, mỗi sự cúng dường khắp pháp giới, đôi bên không tạp không chướng ngăn, tận bờ vị lai làm Phật sự, xông khắp pháp giới các chúng sanh, nhờ đây đều phát bồ đề tâm, đồng nhập vô sanh chứng Phật trí)

Cúng dường rồi dốc lòng cung kính...

5.   Thỉnh Tam Bảo, Chư Thiên

Hành giả vận tưởng cúng dường khắp xong rồi, quỳ xuống thắp hương, nghĩ ngay đến Tam bảo, tuy đã lìa chướng được thanh tịnh, nhưng lại vì đồng thể đại bi, nghĩ tưởng đến chúng sanh. Nếu chúng ta ba nghiệp dốc lòng phụng thỉnh, thì Tam bảo tất sẽ hiện đến, dứt khổ cho vui. Vì vậy cần phải chí thành, theo đó ân cần ba phen thỉnh, ắc có cảm ứng. xướng rằng:

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A-di-đà Thế Tôn. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Quá Khứ Vô Lượng Ức Kiếp Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Thế Tôn. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Quá Khứ Chín Mươi Chín Ức Hằng Hà Sa Chư Phật Thế Tôn (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Quá Khứ Vô Lượng Kiếp Chánh Pháp Minh Thế Tôn. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Tất Cả Chư Phật Thế Tôn Trong Mười Phương. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Ngàn Đức Phật Ở Hiền Kiếp Cùng Tất Cả Chư Phật Thế Tôn Trong Ba Đời. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Chương Cú Mầu Nhiệm Của Đại Đà La Ni Tâm Đại Bi Rộng Lớn Tròn Đầy Không Ngăn Ngại. (Khởi nghĩ, pháp tánh như "không", không thể thấy, pháp bảo thường trụ khó nghĩ bàn, con nay ba nghiệp như pháp thỉnh, xin hiện cho con được cúng dường. Kế đó cũng vậy.) (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả Đà-la-ni mà Đức Quán Thế Âm đã nói cùng tất cả tôn pháp trong khắp mười phương ba đời. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Đức Quán Thế Âm Tự Tại Đại Bồ-tát có tâm đại từ đại bi hóa thân diệu dụng ngàn tay ngàn mắt. (khởi nghĩ cũng như nghĩ đến Phật, nhưng đổi đối tượng lại thành Quán Thế Âm Bồ-tát. Các vị Bồ-tát, Thanh văn sau, theo vị trí mà đổi tên) (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Đại Thế Chí Bồ-tát ma-ha-tát. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Tổng Trì Vương Bồ-tát ma-ha-tát (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Nhật Quang Bồ-tát, Nguyệt Quang Bồ-tát ma-ha-tát (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Bảo Vương Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát ma-ha-tát (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Hoa Nghiêm Bồ-tát, Đại Trang Nghiêm Bồ-tát, Bảo Tạng Bồ-tát ma-ha-tát. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Đức Tạng Bồ-tát, Kim Cang Tạng Bồ-tát, Hư Không Tạng Bồ-tát ma-ha-tát. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam Mô Di-lặc Bồ-tát, Phổ Hiền Bồ-tát, Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát ma-ha-tát. (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô tất cả các đại Bồ-tát trong ba đời mười phương.  (cúi đầu)

Nhất tâm phụng thỉnh: Nam mô Trưởng Lão Đại Ca-diếp cùng vô lượng vô số đại Thanh văn Tăng. (cúi đầu)

Nhất tâm triệu thỉnh: Thiện-tra, Phạm-ma, Cù-bà-già Thiên tử, hộ thế tứ Thiên vương, bát bộ chúng Trời, Rồng... thiên nữ Đồng Mục, thần Hư Không, thần Sông Biển, thần Suối Nguồn, thần Ao Hồ, thần Cỏ Thuốc Rừng Cây, thần Nhà Cửa, thần Nước, thần Lửa, thần Gió, thần Đất Cát, thần Núi, thần Đất Ở, thần Cung Điện v.v… Cùng với tất cả Trời, Rồng, Quỷ Thần bảo vệ người trì chú và với các quyến thuộc của mỗi vị.

Ngưỡng nguyện:

 Đức Bổn sư Thích-ca, Đức A-di-đà từ phụ, Đức Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai, cùng tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, khởi tâm từ bi bình đẳng với tất cả chúng sanh, hiện thân đến đạo tràng, chứng minh đệ tử hành pháp sám hối.

Duy nguyện: Thần Chú bí yếu Đà-la-ni tâm đại từ bi rộng lớn tròn đầy không chi ngăn ngại, xin hiển hiện nơi đạo tràng cho con được cúng dường.

Duy nguyện; Đức đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát thần lực hóa hiện ngàn mắt ngàn tay, nương theo bổn nguyện lực, hiện ra trước con, gia trì cho thần chú, khiến cho đệ tử chúng con trừ sạch ba chướng; cùng các đại Bồ-tát như Đại Thế Chí Bồ-tát, Tổng Trì Vương Bồ-tát v.v… Các đại Thanh văn như: Ngài ma-ha Ca-diếp v.v… Khởi tâm từ bi, đồng thời quang giáng.

Phạm thiên, Đế thích, tứ Thiên vương, chư Thiên bát bộ, theo lời mời thỉnh, đến giữ đạo tràng, ủng hộ trì chú, trừ các ma chướng, hiện điềm tốt lành, khiến cho những điều con tu không trái bổn nguyện.

6.   Thành Tâm Tán Thán

       Kinh này không có kệ tán thán. Muốn lấy kinh khác để tán thán nhưng sợ rằng sẽ có chút sai khác so với thể chú và báo tướng, nên Tôi liền y kinh mà lược thuật để tán thán.

                   Kính lạy đời quá khứ

                   Chánh Pháp Minh Như Lai

                   Chính là đời hiện nay

                   Quán Thế Âm Bồ-tát

                   Bậc thành công đức diệu

                   Rũ lòng Đại Từ Bi

                   Nơi trong một thân tâm

                   Hiện ra ngàn tay mắt

                   Soi thấy khắp pháp giới

                   Hộ trì các chúng sanh

                   Khiến phát đại từ tâm

                   Dạy trì chú viên mãn

                   Cho đoạn hẳn đường ác

                   Được sanh ngay nơi Phật

                   Những tội lỗi vô gián

                   Cùng bệnh nặng triền thân

                   Khó có thể cứu chữa

                   Cũng đều khiến tiêu trừ

                   Các tam muội biện tài

                   Hiện đời nguyện cầu chứng

                   Thảy đều được thành tựu

                   Quyết định không nghi ngờ

                   Ngoài ra còn có thể

                   Khiến mau chứng ba thừa

                   Sớm lên ngôi quả Phật

                   Sức oai thần như thế

                   Khen mãi cũng chẳng cùng

                   Cho nên con dốc lòng

                   Quy mạng và đảnh lễ.

(Bày tỏ lòng thành khẩn, tùy theo trí lực của mình mà nói đúng sự thật. Nhưng những điều mình mong cầu, không được để cho tăng trưởng sanh tử, điều tâm khởi nghĩ, phải là lợi ích chúng sanh. Có điều, lòng thành mới được cảm thông. Xin hãy cẩn thận chớ có dễ dui!)

7.    Tác Lễ

Hành giả nên niệm Tam bảo, thể là vô duyên từ bi, thường muốn cứu độ hết thảy chúng sanh, chỉ vì không có chúng sanh đương cơ nên không thể khởi. Con đã ba phen phụng thỉnh, tuy chẳng tận mắt thấy, nhưng sự ngầm cảm ứng thì không dối. Cho nên cần phải khởi tâm quy kính, xông các thứ danh hương, đảnh lễ chư Phật đã thỉnh ở trên. Riêng chư Thiên Quỷ Thần không cần hành lễ. Còn về chú Đại Bi và Quán Thế Âm Bồ-tát, mỗi phần cần phải lễ ba lần. Vì Bồ-tát và Chú Đại Bi là chủ của đạo tràng. Thế nên xướng rằng:

Nhất tâm đảnh lễ: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

(Hết thảy Tam bảo đã thỉnh ở trước, khi lễ phải năm vóc phủ phục sát đất, ân cần trân trọng kính lễ. Khi lễ Phật phải nghĩ rằng: Người lễ và đức Phật được lễ tánh vốn rỗng rang, vắng lặng, sự cảm ứng giao thoa không thể nghĩ bàn, đạo tràng của con đây ví như màn lưới của trời Đế Thích, ảnh Phật Thích-ca hiển hiện trong đó, bóng con quỳ trước đức Thích-ca, đầu mặt hôn chân quy mạng lễ. Đến lúc lễ đức Phật A-di-đà thì đổi lại là ảnh Phật A-di-đà hiện trong đó v.v... Khi lễ Pháp thì nghĩ rằng, pháp tánh chân không như hư không, pháp bảo thường trụ khó nghĩ bàn, thân con ảnh hiện trước pháp bảo, nhất tâm như pháp quy mạng lễ. Lễ Tăng cũng theo cách lễ Phật trên, nhưng đổi lại thành Bồ-tát v.v... Chỉ có lễ Quán Âm thì là vì cầu diệt chướng nên hôn chân lễ, vì Bồ-tát là chủ của sám hối.)

8.    Phát Nguyện Trì Chú

Kinh dạy rằng: "Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, đồng nam, đồng nữ nào muốn trì tụng chú này, trước hết phải theo con phát lời nguyện này..." Lời nguyện này rộng sâu, gồm thâu cả quyền thật, nếu chẳng phải giáo quán của Thiên thai thì không ai có thể dò được bến bờ này. Nay y theo gia phái, lược làm tiêu chỉ, khiến cho tâm người thọ trì có chỗ quy hướng.

Trong phần nguyện này có hai phần. Mười nguyện đầu là nói pháp thành tựu - pháp sanh thiện. Sáu nguyện sau là nói pháp trừ diệt - pháp phá ác. Nay y theo việc thọ trì chú đạt được lợi ích chứng bốn quả, mười địa v.v...bộ loại xếp vào hệ phương đẳng. Hiển lời nguyện này là chung khắp cho tứ giáo Bồ-tát. Bên cạnh đó cũng gồm hai giáo nhị thừa, cũng có pháp duyên từ bi, vì thuận thế mà lợi ích chúng sanh.

Nay hành giả, vì hiển tam muội giác ý, chỉ quán viên đốn mà lập nguyện khởi hạnh, cần phải thuận theo ý chỉ Pháp Hoa. Cho nên tổ Kinh Khê có nói: "Dẫn dụ các kinh đó đây, bao gồm cả đời Phật thuyết pháp, văn thể chánh ý, duy chỉ ở đề hồ" Mười sáu lời nguyện này cần phải giải thích theo nghĩa khai hiển viên giáo. Mười nguyện đầu đều xưng là nam-mô Đại Bi Quán Thế Âm.

Chữ nam-mô phiên nghĩa là quy mạng, là gởi trọn thân mạng này, cũng còn gọi là độ con. Điều này xác tín bằng đại bi, vì lấy cái tâm dứt khổ của Bồ-tát làm trọng. Gọi Bồ-tát là bậc có đầy đủ đại bi, bậc khiến cho mọi người không còn sợ hãi là vì cái thể đại bi của Ngài trọn vẹn, tức là có thể ban cho niềm vui. Nói về Bồ-tát Quán Âm, trong phần Sớ Biệt Hành có nói đầy đủ, vì lòng thương xót của Ngài quá sâu, cho nên dạy chúng sanh cầu nơi mình để được độ thoát. "Hướng tâm theo tôi mà lập lời thệ nguyện" là khiến cho mình có được cảm cơ. Nhưng chúng ta cũng cần phải biết, đại bi Quán Âm chính là bổn tánh của chính mình. Nay muốn khôi phục lại bổn tánh cho nên gọi là "vốn lập lời thệ nguyện" Lại nữa, lời nguyện này chính là lực dụng của bổn tánh. Bồ-tát Mã Minh có nói: "Tự tâm khởi tin, tin lại tâm mình" Trong kinh dạy rằng: "Phải nên theo ta phát nguyện như vầy" Nay dùng hai nghĩa để giải thích mười nguyện này.

Thứ nhất:giải thích theo bốn thệ nguyện rộng lớn của các kinh. Kế đến giải thích theo thập thừa của các nhà chú sớ. Phàm bốn lời nguyện rộng lớn là y nơi bốn sự thật khởi. Bốn sự thật là, hai sự thật chỉ nhân quả khổ của thế gian, hai sự thật chỉ nhân quả vui của xuất thế. Các vị Bồ-tát muốn dứt cái khổ này, muốn cho cái vui này, nên y vào đây mà lập bốn lời nguyện. Y nơi sự thật về khổ mà lập nguyện: "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ". Y nơi sự thật về tập mà lập nguyện: "Phiền não vô số thệ nguyện đoạn". Y nơi sự khổ về diệt mà lập nguyện: "Pháp môn vô tận thệ nguyện biết" Y nơi sự thật về đạo mà lập nguyện: "Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành"

Trong mười nguyện này, dứt cái khổ của thế gian xếp đứng đầu nên có chút khác so với thứ tự của bốn thệ nguyện, nhưng cả hai đều thành tựu cho nhau. Dùng cái biết hết thảy pháp qua tuệ nhãn, độ chúng sanh, cần có thuyền phương tiện mới vượt qua biển khổ, bước lên núi niết-bàn vào nhà vô vi có thể nương náo thân. Hai nguyện đầu là y vào sự thật về tập mà lập. Đầu tiên là nguyện biết tất cả pháp trần lao, tức là pháp giới này. Kế đến là nguyện được mắt tuệ tròn sạch, vì không có trí tuệ này thì không thể biết khắp. Nguyện thứ ba và thứ tư là y vào sự thật về khổ mà lập.

Đầu tiên là nguyện độ tất cả chúng sanh bị trầm luân, kế đến là nguyện sớm thể nhập phương tiện, vì không có phương tiện này thì không thể độ khắp hết thảy chúng sanh. Nguyện thứ năm, sáu, bảy, tám là y vào sự thật về đạo (đạo đế) mà lập. Đạo tuy muôn hạnh nhưng không ngoài ba học. Trước hết là cầu trí tuệ chân thật, mà bát-nhã tức là tuệ học; kế đến nguyện trí tuệ thành tựu vượt khỏi biển khổ hai tử; thứ nữa là cầu giới định bậc thượng của xuất thế; sau cùng nguyện hai học công thành, vào nơi ba đức, ba học. Niết-bàn là khởi đầu của ba đức; vượt khổ, chứng diệt là hiển cái kết của sự thật về đạo. Nguyện thứ chín, mười là y vào sự thật về diệt mà lập. Trước hết là cầu pháp vô vi để vào ngôi nhà tâm của mình, hành diệt hoặc dứt. Nguyện sau là sâu vào pháp tánh, khôi phục lại thân thanh tịnh vốn có, rốt ráo thường vắng lặng. Dù có trăm ngàn nguyện đi nữa cũng không ngoài bốn nguyện rộng lớn này, huống hồ gì mười nguyện đây. Lại nữa, nguyện không dựa vào đế (sự thật) gọi là nguyện cuồng. Tuy không nêu ra bốn thệ nguyện rộng lớn, nhưng nay nhờ Quán Âm Bồ-tát trí xảo bi sâu, khai bốn nguyện làm mười, cũng là vì muốn hành giả nêu tâm lập hạnh, điểm khởi nguồn, sự kết thúc thảy đều hiển bày ra hết. Nhưng cần phải rõ biết các tướng thỉ chung, thể tánh dung tức. Cho nên tổ Kinh Khê có dạy: "Hàng sơ tâm nhiếp khắp, quán pháp giới hoặc, ngay nơi hoặc thành trí, ngay nơi sanh thành diệt, gọi là viên bốn thệ" Đã rõ biết hai nguyện đầu dứt cái khổ của tánh đức, hai thệ nguyện sau cho cái vui của tánh đức, tánh khổ vui này, đâu cần dứt với cho, đây là lời thệ vô tác vậy.

Thứ hai: ước theo giải thích mười thừa của kim gia (phái sơn gia). Thánh ý nhiều hàm ẩn, có hai cách giải thích. Dò xétcả lời vănnguyện, qua đó biết rằng, nguyện này thành mười thừa pháp vậy. Tại sao trước khi đọc chú phải phát mười nguyện này trước? nói chú  xong chỉ bày cái tướng mạo của chú? Có chín câu và bài chú, thể thành mười pháp, so với thập thừa của các kim gia (phái sơn gia) thì không có sai khác, điều này sẽ nói trong phần quán hạnh sau.

Thập thừa nghĩa là:Thứ nhất là quán cảnh giới bất tư nghì, thứ hai là phát tâm bồ-đề, thứ ba là thiện xảo an tâm chỉ quán, thứ tư là phá pháp biến, thứ năm là thức thông tắc, thứ sáu là điều thích đạo phẩm, thứ bảy là đối trị trợ khai, thứ tám là tri thứ vị, thứ chín là an nhẫn, thứ mười là ly thuận đạo pháp ái. Mười nguyện đây đối với mười thừa này, chỉ có khác ở chỗ trước sau. Mười nguyện kia là y cảnh phát tâm. Mười thừa này là y cảnh tu quán. Mỗi bên có ý riêng.

 Đầu tiên là nguyện biết tất cả pháp, hiển "cảnh giới bất tư nghì." Nếu chẳng "nhất niệm tam thiên" thì làm sao gồm thâu tất cả pháp? Thứ hai là nguyện được mắt trí tuệ, là "viên chỉ quán", thành mắt trí của Phật, vì không có trí nhãn này thì không thể hiển diệu cảnh. Thứ ba nguyện độ hết thảy chúng sanh, là phát "bồ-đề tâm viên mãn", vô duyên đại bi dứt khổ, hàng sơ trụ trở lên mới có được. Thứ tư là nguyện có được phương tiện khéo, tức "phá pháp biến", ba hoặc phá rồi mới có thể tùy ý ban vui dứt khổ, "phá biến" tức là phương tiện độ sanh, Bồ-tát phá hoặc là vì độ chúng sanh. Thứ năm là nguyện ngồi thuyền bát-nhã, tức là "thức thông tắc" như nước có thuyền, tức chỗ nào bít có thể làm cho thông. Thứ sáu là nguyện vượt khỏi biển khổ, tức "thành đạo phẩm", vì nếu chẳng phải là "vô tác đạo phẩm" thì đâu thể vượt khỏi biển hai tử. Thứ bảy là nguyện được giới định đạo, tức "thành trợ đạo", vì dùng tâm vô tác tu tập giới định, trị ác bậc nhất. Thứ tám là nguyện lên núi niết-bàn, tức "tri thứ vị". Núi phải từ thấp lên cao, vì tuy quán tức lý nhưng đạo không thể tùy tiện tầng nấc. Thứ chín là nguyện gặp nhà vô vi, tức "thành hạnh an nhẫn". Xá gọi là xả chúng, vì chóng chứng vô vi. Hành này không riêng gì, sơ phẩm thượng địa cũng đều vậy, trời rồng cung kính không lấy làm mừng, tức là thí dụ đây vậy. Thứ mười là nguyện thân đồng pháp tánh, tức "lìa pháp ái", tợ giải không ngại, hợp với chân thân Phật. Cho nên chuẩn theo văn thì hai phần này thành tựu cho nhau, chiếu cảnh do chỉ quán, cho dứt do phá hoặc, trước biết chỗ thông bít rồi mới tu đạo phẩm, không có công đối trị thì làm sao mà có thứ vị? Nếu không có an nhẫn thì không có tợ ái để lìa. Pháp quán này, tu thì ở phần danh tự, thành thì ở ngũ phẩm. Tợ phát ở sáu căn, chân phát ở phần chứng, rốt tận là ở chỗ diệu giác.

Nay việc lập nguyện, tu để đắc môn, thành để dứt thế. Hoặc nơi nhất quán, hoặc qua các dòng tâm khác để nhập vào tợ chơn đi đến Đẳng(giác) Diệu(giác). Lại nữa nên biết mười pháp này, tuy luận về tu chứng cho đến nhân quả, nhưng hiện tiền một niệm vốn tự viên thành, toàn tánh khởi tu tức nhân thành quả. Nay lập nguyện này, phơi bày tâm nơi đây. Lại nữa, mười pháp này tuy biết là do Trí Giả đời tượng pháp tuyên dương, nhưng đồng thời cũng là ý chỉ tiệm đốn của các kinh, nếu lìa mười pháp này thì không có pháp tu chứng. Xe lớn trong Pháp Hoa rất đáng làm ví dụ. Sáu nguyện sau, một bề là phá ác. Trong đó ba nguyện đầu là phá địa ngục và riêng hai nguyện đầu là phá hai loại trừng phạt đao và lửa, phần thứ ba là phá tất cả địa ngục. Ba phần sau là phá ba nẻo khác. Nên biết, sáu nguyện này là ngay nơi đối trị tất-đàn mà lập, cho nên phần lời địa ngục là: bẻ gãy, khô sạch; phần quỷ đói thì được no đủ; phần tu-la thì điều phục; súc sanh thì được trí tuệ, cũng như sáu Quán Âm đối trị phá sáu đường, có điều giáo hóa chư thiên thuận tiện vì ở cõi lành, con người thì phải sâu vào lý, vì có sức tư duy mạnh. Bốn cõi còn lại thì phải thuận theo đối trị vì nhiều điều ác.

Ý nghĩa chữ ngã trong các lời nguyện. Tuy là người trì chú xưng, nhưng thảy đều là cái ngã chân thường của các cõi, trong một niệm có ngàn pháp. Trong mười nguyện đầu, mỗi một chữ ngã đều là như vậy.

Chữ "nếu" là từ bất định, tùy theo đối tượng đối trị.

Các chữ "hướng" trong câu: nghĩa là thuận theo đối. Vì là nghĩa đối trị nên phải khéo hợp. Tức là dùng ngã tánh của bốn thú làm chủ thể đối trị, lấy ba chướng của bốn cõi làm đối tượng đối trị.

Các chữ "tự" trong câu có nghĩa: ba chướng vốn không, vì vô minh cho nên có, đối trị bằng pháp viên, nói nó vốn hư dung, thì chẳng có chướng ngại nào nữa, vì vậy nói là tự bẻ gãy v.v.... Nhưng năng đối có mình người, sở trị có ba chướng. Người tự trị có sự hành lý quán trị, còn người thì luận về thần thông cảm ứng. Tại sao? vì khi như mình khởi phiền não của bốn cõi, tạo ác nghiệp của bốn cõi, thọ khổ của bốn cõi thì xưng danh tụng chú để đối trị chúng, nguyện cho ba chướng này liền tự bẻ gãy v.v...đây là sự hành trị. Còn nếu tự dụng thì lấy thập thừa quán tuệ, đối với bốn cõi thì khi bị hoặc, bị nghiệp, bị quả báo, nguyện được quán thành chướng diệt, liền bẻ gãy v.v... đây là lý quán trị. Nếu tự mình quán, hành được thành tựu thì có thể phá ba chướng, hiện ra cái tánh ngã đại tự tại, thấy tất cả chúng sanh bị cái khổ ba chướng của bốn cõi, dùng cái sức tợ giải để đối chúng, tức dùng thần thông để trị họ; dùng sức phần mãn để đối chúng, tức là dùng cảm ứng để trị chúng. Cho nên câu "Nếu con hướng núi đao, núi đao tự bẻ gãy v.v..." có ý nghĩa rất sâu xa, không được xem thường.

Nguyên đức Quán Âm mà mình hướng về có thể dứt chướng của ba đường. Thần chú và ngã thể là pháp giới, cũng còn gọi là trung đạo. Nêu một mà gồm thâu hết, pháp pháp tuyệt đãi. Vì là cõi mê nên tạm phân cảm ứng, cho nên gọi là nam-mô. Vì phiên cái mê nên nghĩa lập là đối trị, vì thế mới nói là "con hướng". Nay thuận theo pháp viên mà lập các lời nguyện trên, gọi là vô tác thệ nguyện, công rất là lớn.

Hỏi:Viên giải viên tu thì có thể đạt được lợi ích như vậy. Không có cái giải này thì tu có ích gì?

Đáp:Thể của pháp bổn nhiên. Bậc thánh xưng bổn mà chỉ bày cái tu pháp này. Dù chưa được viên giải, nhưng được cái cơ thành tựu, mặc tình mà đạt được lợi ích. Nếu ai hiểu được thì công không thể nghĩ bàn. Cũng giống như hạt châu ma-ni, người ngu có được chẳng phải là không có lợi ích gì, có điều chỉ đổi được một chiếc áo, một buổi ăn mà thôi. Còn nếu người biết giá trị, tu trị mười sự đây thì được mưa báu của bốn châu. Kinh dạy rằng: "Người có phương tiện tuệ quán, quả vị thập địa khắc đạt được không khó" vì vậy cho nên hành giả nên gần minh sư để học cái viên giải đây. Trong khoảng lập nguyện, tâm khẩu nhất như, ba chướng tứ tiêu trừ, pháp thân mau chứng. (Đã lược biết cái ý chỉ này thì nên phát lời nguyện đây. trước hết xướng rằng)

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con mau biết tất cả Pháp!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyên con sớm được mắt trí tuệ!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con mau độ hết thảy chúng!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con sớm được phương tiện khéo!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con mau ngồi thuyền bát-nhã!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con sớm vượt qua biển khổ!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con mau được giới, định, tuệ!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con sớm lên núi niết-bàn!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con mau vào nhà vô vi!

Kính lạy Đức Đại Bi Quán Thế Âm: Nguyện con sớm đồng thân Pháp tánh!

Nếu con khởi tâm về núi đao, núi đao liền đổ gãy!

Nếu con khởi tâm về hầm lửa, hầm lửa tự khô tắt!

Nếu con khởi tâm về địa ngục, địa ngục liền trống không!

Nếu con khởi tâm về ngạ quỷ, ngạ quỷ đều được no đủ!

Nếu con khởi tâm về A-tu-la, ác tâm tu- la tự điều phục!

Nếu con khởi tâm về súc sanh, thì chúng liền được đại trí tuệ!

Trong kinh dạy rằng, phát lời nguyện này rồi, chí tâm xưng niệm danh hiệu của ta và cũng nên chuyên niệm bổn sư ta là A-Di-Đà Như Lai, rồi sau đó nên tụng Đà-la-ni này (Hành giả nghĩ tưởng mình đang đối trước chư Phật Bồ-tát đây, xưng niệm tôn danh, sau cho ai thiết, cũng giống như là đang bị lửa thiêu, bị chết đuối mà mong người cứu vậy. Nếu thời gian ngắn thì niệm bảy biến, còn nếu thời gian rộng rãi thì niệm nhiều càng tốt.)

Nam-mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát

Nam-mô A-Di-Đà Phật.

Lúc bấy giờ, đức Quán Thế Âm Bồ-tát bạch Đức Phật rằng:

Bạch Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào trì tụng thần Chú Đại Bi này mà còn bị đọa vào ba đường ác con thệ không thành Chánh giác. Nếu người trì tụng thần Chú Đại Bi này mà không sanh vào các cõi nước Phật thì con thệ không thành Chánh giác. Nếu người trì tụng thần Chú Đại Bi này mà không được tam-muội biện tài thì con thề không thành chánh giác. Nếu người trì tụng thần Chú Đại Bi này, mà ngay nơi đời này, tất cả những điều mong cầu không được như ý thì chú này không đáng gọi là Đại Bi Tâm Đà-la-ni, trừ những kẻ bất thiện và không chí thành.

Quán Thế Âm Bồ-tát nói lời này xong, ở trước hội chúng chắp tay ngay ngắn, khởi tâm đại bi với chúng sanh, nở nụ cười hàm tiếu, nói ngay chương Cú Thần Diệu Đại Tổng Trì Tâm Đại Bi Rộng Lớn Tròn Đầy không chi ngăn ngại như vầy:

Nam mô hắt ra đát na đa ra dạ da, nam mô a rị da, bà lô yết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca rô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả.

Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa na ma bà già, ma phạt đặt đậu, đát điệt tha, án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất phật ra da, giá ra giá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ dề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na, sa bà ha, tất đà dạ, sa bà ha, ma ha tất đà dạ, sa bà ha, tất đà dũ nghệ, thất bàn ra dạ, sa bà ha, na ra cẩn trì, sa bà ha, ma ra na ra, sa bà ha, tất ra tăng a mục khê da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha, giả kiết ra a tất đà dạ, sa bà ha, ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha, na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, sa bà ha, ma bà lợi  thắng yết ra dạ, sa bà ha.

Nam mô hắt ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, sa bà ha.

Đức Quán Thế Âm Bồ-tát nói bài chú này xong, đại địa chấn động sáu điệu, trên trời mưa hoa báu đổ xuống dồn dập, mười phương chư Phật thảy đều hoan hỷ, thiên ma ngoại đạo sợ hãi dựng tóc gáy; tất cả chúng hội đều được chứng quả, như quả Tu-đà-hoàn, hoặc đắc quả A-la-hán, hoặc đắc nhất địa, nhị địa, tam tứ ngũ địa cho đến thập địa, vô lượng chúng sanh phát Bồ-đề tâm.

9.    Sám Hối

Hành giả tụng thần chú này xong, nên nghĩ đến tất cả chướng duyên của mình hiện nay đều do nhân trước mà có, cho nên đời này, mình với mọi người không có ác nào mà không tạo; tội lỗi đã tích chứa nhiều đời nhiều kiếp, nay gặp lại làm kẻ oán người thân, gây chướng ngại, phiền não cho nhau. Nếu không sám hối thì biết lấy gì mà cởi oan khiên, được giải thoát và đạo pháp cũng không biết sao mà thành. Vì vậy chúng ta cần phải phơi bày tội lỗi sám hối, cầu xin Tam Bảo thương tưởng mà diệt trừ tội lỗi cho mình.

Trong kinh đây dạy: "Vì tất cả chúng sanh mà sám hối tội lỗi gây nghiệp đời trước và cũng tự sám hối tạ lỗi vô số ác nghiệp từ vô lượng kiếp trước của mình". Pháp Hoa Tam-muội có dạy: "Tánh của nghiệp tuy không, nhưng mà quả báo không mất, vì điên đảo nhân duyên mà tạo các trọng tội" nghĩ như vậy rồi, đau buồn rơi lệ, miệng thốt lời sám hối.

Người trì chú nên nghĩ như vầy: Mình và chúng sanh từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay bị chướng ngại bởi các trọng tội do sáu căn ba nghiệp gây tạo nên không được gặp chư Phật, không biết được pháp trọng yếu xuất thế; chỉ cam tâm chịu sanh tử chớ không biết diệu lý. Ngày nay tuy mình và chúng sanh cũng đều biết là vậy như nhau, nhưng bị chướng ngại bởi tất cả trọng tội, cho nên hôm nay mình đối trước mười phương chư Phật và Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, vì hết thảy chúng sanh mà quy mạng sám hối. Duy nguyện chư Phật Bồ-tát gia hộ khiến cho hết thảy chúng con được tiêu trừ tội chướng. Nghĩ như vậy rồi xướng rằng:

Con nay khắp vì bốn ân ba cõi, pháp giới chúng sanh, thảy nguyện đoạn trừ ba chướng (xướng rồi năm vóc gieo mình xuống đất lạy 1 lạy, tâm nghĩ rằng:)

Con và pháp giới chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay, bởi do ái kiến nên trong thì chấp ngã nhân, ngoài thêm kết bạn ác, không biết tùy hỷ dù chỉ là một chút việc thiện của người, chỉ biết mặc tình tạo các tội nơi ba nghiệp. Việc gây tội tuy không nhiều, nhưng ác tâm thì cùng khắp, đêm ngày tiếp nối không có gián đoạn; giấu diếm tội lỗi, không muốn người biết, không sợ đường ác, không biết hổ thẹn, bác bỏ nhân quả. Biết vậy hôm nay, chúng con tin sâu nhân quả, vô cùng hổ thẹn, vô cùng sợ hãi, nên phát lồ sám hối, để đoạn tâm tương tục tạo nghiệp; phát tâm Bồ Đề, đoạn ác tu thiện, khuyên gắng ba nghiệp, chuyển trọng tội xưa,vui theo chút thiện của bậc thánh tạo. Nghĩ đến mười phương Chư Phật có đại phước huệ; có năng lực cứu vớt mình và chúng sanh, tư biển nhị tử đến bờ tam đức.

Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng con không biết các pháp bổn tánh vốn không tịch nên rộng tạo các ác. Nay con đã biết tánh không tịch, vì cầu Bồ-đề, vì các chúng sanh mà rộng tạo các thiện, đoạn hết các ác. Duy nguyện: Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, từ bi nhiếp thọ. Nghĩ như vậy rồi xướng rằng:

Chí tâm sám hối:

Đệ tử tỳ-kheo (tỳ-kheo Ni, cư sĩ)……………………….cùng tất cả chúng sanh trong pháp giới, hiện tiền nơi một tâm đây, vốn có đầy đủ ngàn pháp, đều có thần lực và trí tuệ, trên sánh tâm Phật, dưới đồng muôn loài. Nhưng bởi vô thỉ đến nay, vì bị hôn ám làm chướng ngại bổn tánh sáng suốt vắng lặng này, nên xúc cảnh hôn mê. Hể vừa khởi tâm liền bị chấp trước trói buộc, nên trong pháp bình đẳng, khởi nghĩ mình người. Do ái kiến làm gốc, thêm thân khẩu làm duyên trong nẻo luân hồi, tạo hết thảy tội, thập ác ngũ nghịch, báng pháp báng nhân, phá giới phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm đồ tăng chúng, phạm uế tịnh hạnh, xâm tổn của thường trụ (của Tam bảo) của cải uống ăn, dù ngàn Phật ra đời cũng khó sám hối hết. Các tội lỗi như thế vô lượng vô biên, khi bỏ thân mạng này rồi thì lại bị đọa vào ba đường ác, chịu đủ muôn khổ. Lại thêm hiện đời bị các não giày vò, hoặc bị bịnh độc triền thân, duyên ngoài bức bách gây chướng ngại đạo Pháp, khó thể tiến tu. Nay gặp thần chú Đại Bi viên mãn, có thể mau diệt trừ các tội chướng như thế. Cho nên hôm nay chúng con chí tâm trì tụng, quy hướng về Đức Quán Thế Âm Bồ-tát và mười phương Chư Phật, phát tâm Bồ-đề, tu hạnh chân ngôn, cùng với chúng sanh, phát lồ các tội, cầu xin sám hối, nguyện thảy tiêu trừ. Duy nguyện:

Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát ma-ha-tát, ngàn tay bảo vệ, ngàn mắt chiếu soi, khiến cho chúng con, duyên chướng trong ngoài, thảy đều dứt sạch, tự giác giác tha, hạnh nguyện viên thành, mở tánh thấy biết, dẹp trừ ma ngoại, ba nghiệp chuyên cần, tu nhân tịnh độ, bỏ báo thân này, không thọ đường khác, quyết định được sanh về thế giới cực lạc của đức Phật A-di-đà, được thân cận cúng dường Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, đủ các Tổng trì, rộng độ chúng sanh, đều thoát luân hồi, cùng lên bờ trí (có thể thay thế bằng câu: ba nghiệp chuyên cần, tu nhân giải thoát, nơi một đời này, chứng pháp vô sanh, đủ các tổng trì, rộng độ chúng sanh, đồng chứng Bồ-đề...)

Sám hối phát nguyện rồi, đệ tử chúng con chí thành quy mạng đảnh lễ Tam bảo (1 lạy )

Kế đến nên như pháp mà nhiễu Phật, hoặc ba hoặc bảy vòng(Trước khi nhiễu Phật, phải nên đứng thẳng, nghĩ tưởng đạo tràng này như pháp giới, mười phương Tam bảo đầy chật hư không, kế đó xoay người nhiễu pháp tòa. Mười phương Tam bảo tâm tánh tịch diệt, ảnh hiện mười phương, tâm nghĩ như mộng, tiếng phạm như âm vang, chớ để tâm tán loạn. Miệng xướng rằng:)

Nam-mô Thập Phương Phật, Nam-mô Thập Phương pháp, Nam-mô Thập Phương Tăng, Nam-mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Nam-mô A-Di-Đà Phật, Nam-mô Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Phật, Nam-mô Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni, Nam-mô Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát, Nam-mô Đại Thế Chí Bồ-tát, Nam-mô Tổng Trì Vương Bồ-tát (Xưng niệm từ ba đến bảy lần như vậy rồi quay lại, trở về chỗ tôn tượng, tự quy y)

Con quy y Phật

Nguyện cho chúng sanh

Hiểu rõ Phật đạo

Phát tâm vô thượng

 

Con quy y Pháp

Nguyện cho chúng sanh

Học sâu Kinh tạng

Trí tuệ như biển.

 

Con quy y Tăng

Nguyện cho chúng sanh

Lãnh nhiếp đại chúng

Hết thảy không ngại.

10.    Hành Quán

Hành giả lễ sám hối xong rồi, rời khỏi đạo tràng, riêng đến một nơi khác, đến giường dây (tọa cụ) y kinh tu quán.

Kinh dạy: "khi vừa nói thần chú này xong, Đại Phạm Thiên Vương Thưa Thỉnh: Duy nguyện Đại Sĩ hãy nói cho con được rõ biết hình dáng tướng trạng của Đà-la-ni này. Đức Quán Thế Âm trả lời: là tâm đại bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm vô nhiễm, tâm quán không, tâm cung kính, tâm khiêm hạ, tâm không tạp loạn, tâm vô thượng bồ-đề. Phải biết rằng, các tâm như vậy chính là tướng mạo của Đà-la-ni, ông nên y theo đó mà tu hành." Nay tôi giải thích ý đây.

Chín tâm trong kinh tức là y cảnh, là chín thừa pháp phát bồ-đề tâm v.v... vậy. Do ban đầu thần chú thuộc về lý cảnh, lời nói khó có thông hiển, nhưng qua luận chỗ sâu kín thì càng hiển rõ chỗ sâu bí. Cho nên hàng thượng căn vừa nghe liền chứng nhập, hoặc là thềm bốn quả, hoặc là lên mười địa, nội ngoại phàm vị gọi chung là phát tâm. Đây chính là do Đại Phạm Thiên Vương thấy các bậc thượng căn nghe cảnh được ngộ, nên vì hàng trung hạ căn mà thỉnh hỏi chín thừa khác, vì thế nên nói, tướng mạo lý cảnh như hình thể của chiếc xe, như câu trả lời đầy đủ đây đã hợp với pháp lại còn hợp cơ. Cho nên Quán Âm Bồ-tát khen rằng: "Ông vì phương tiện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh mà hỏi như vậy" cho nên biết rằng, thể của chú, cho đến chín tâm mười thừa ý đủ đầy.

Lại nữa kinh này luôn khiến cho hành giả khởi tâm đại từ bi với tất cả chúng sanh. Nếu chẳng y lý thì há không phải thành ái kiến đó sao? cho nên lý cảnh đầu tức là cái gốc của từ bi. Tám tâm sau thành pháp bi. Nên biết kinh này nói ngay cái hạnh bi, lại thuộc bộ loại Phương đẳng. Mười pháp này thông cả bốn giáo, mà đại bi rộng lớn tròn đầy không ngăn ngại thuộc hai giáo Tạng Thông, có tên thể không, vì trong lìa đoạn thường há không phải là rộng lớn hay sao? Biệt tuy có lý, tu thì ở thời sau. Viên giáo thì sơ tâm, tận cả thể dụng đây. Nay nói quán tâm là chuyên y nơi viên diệu. Có hai loại, ước hành và thác sự.

1. Ước hành: là thẳng một niệm quán nơi mười cõi, một trăm cõi, một ngàn cõi như diệu pháp. Tuy ngay một niệm có ngàn pháp rõ nhiên, nhưng toàn thể tức không, đương xứ tức giả, vẫn chẳng phải hai bên, lại tức song chiếu, không thể dùng một nhiều để nói thì làm sao mà dùng cái có không để suy nghĩ? hoặc một bên, hoặc chính giữa đều chẳng định được. Cho nên mật ngữ (lời sâu kín) tỏ rõ, hiển liễu phơi này (là lời nói đủ cả sự và lý) chúng ta đều không thể dùng kiến thức để biết, không thể dùng lời để nói, đây là cảnh giới không thể nghĩ bàn nơi tâm quán của mình. Đã biết được tâm mình rồi, như vậy lại nghĩ đến tất cả chúng sanh, mỗi niệm điều như vậy, vốn đủ cả chín cõi. Đã vậy ngay nơi cõi Phật, mỗi niệm cũng đều đủ đầy cả mười loại nhân quả, tức một khổ tất cả khổ. Mình và chúng sanh mặc trôi theo tham sân si, hễ động thân miệng ý thì theo nghiệp thọ báo muôn kiếp ngàn đời, cho nên đối với mình và người đau thương thống thiết, thâm khởi lòng thương xót, thệ nhổ gốc khổ của cả hai. Cõi Phật vốn đủ, ngay như chín cõi mỗi cõi vẫn đủ cả mười thứ nhân quả, mỗi cõi vẫn đủ đầy mười loại nhân quả, tức một vui tất cả vui. Mình và chúng sanh dùng cái tâm phàm phu nhỏ bé mà cầu cầu phước trời người và quả báo hai thừa, được chút ít cho là đủ, vất vả với đời sống hằng ngày vì thế nên khởi niệm thương xót đến mình và cả người, khởi lòng từ sâu sắc thệ cho cả hai niềm vui. Đây chính là cho cái niềm vui rốt ráo, nhổ hết thảy cội khổ, vì thế nên gọi là tâm đại từ đại bi. Từ bi tuy khắp, nhưng niệm phân tán, loạn động vẫn còn nhiều cho nên cần phải dùng chỉ quán không hai trụ nơi pháp tánh, khiến cho tịch chiếu đều dung hòa, gọi là tâm bình đẳng. Nếu lý chưa hiển lộ là do ba hoặc che đậy, bấy giờ chúng ta nên quán cái hoặc này vốn không, pháp tánh vốn tịnh, không thể phá dựng, gọi là tâm vô vi. Nếu dính chặt vào chủ thể quán đây (mình) thì ở nơi thông sẽ thành bít. Hiểu được sự thông bít đây thì gọi là tâm không nhiễm. Các pháp tuy rỗng rang, nhưng chứng biết do đạo (pháp) quán; quán mà không điều (hòa) thích (hợp) thì phẩm vị không sanh, đạo (pháp quán) phẩm (phẩm vị) tương sanh thì thành quán "không". Bị của cải che đậy, lý mê mờ, không hiển chân như nên phải nhờ các pháp năm giới, mười thiện để giúp mở, thấy chúng sanh đồng như chư Phật, đây gọi là tâm cung kính. Vừa dứt tâm thô thì gọi là đến chỗ sâu. Nếu biết thứ vị của viên giáo thì thượng mạn (tăng thượng mạn) có thể trừ, đây gọi là tâm khiêm hạ. Danh lợi, quyến thuộc, dùng ba thuật (pháp tu thiền đuổi ma chướng) để dứt lìa thì có thể chứng được tam-muội, đây gọi là tâm không tạp loạn. Hành chín việc trên đây thì sẽ vượt qua chướng ngại trong ngoài. Nếu khởi pháp ái (sự ưa thích pháp thiện của hàng Bồ-tát) thì sẽ không chứng được như trước. Lìa được pháp ái này mới bước lên phần quả, đây gọi là tâm bồ-đề vô thượng. Hàng thượng căn quán cảnh liền vào sơ trụ, hoặc nội ngoại phàm. Hàng trung căn thì dùng hai đến bảy tâm. Hàng hạ căn thì dùng hết.

2. Thác sự: Toàn thân Quán Âm có ngàn tay mắt. Tay có sức nâng đỡ, mắt có dụng chiếu sáng, tức là một ngàn thần thông trí tuệ. Toàn thân có ngàn tay mắt; ngàn tay mắt không lìa toàn thân là biểu hiện trong một niệm có ngàn thần thông trí tuệ; mười món thần thông trí tuệ không lìa một niệm. Pháp thì gọi là rộng lớn tròn đầy. Lại nói rằng Đại bi không ngăn ngại nếu chẳng một niệm ngàn pháp thì làm sao mà có tên gọi này, đã vậy ngầm nói, ai mà hiểu điều đó. Hiện tướng này là vì để biểu thị, nếu chẳng phải là chuyên gia quán pháp thì làm sao có thể giải thích trọn vẹn pháp danh thân tướng? Trong kinh đây, việc lãnh hội lý giải tuy khác, nhưng hành giả ngày nay được ý Pháp Hoa, nên nơi danh tướng đây trọn chung một nẻo. Huống hồ gì trong đạo tràng, nếu chỉ chiêm lễ tướng này mà không biểu thị quán pháp thì có tác dụng gì? cho nên hai thứ quán môn (Ước hành, thác sự) phải cùng tiến tu. Dù là đi đứng trì tụng hay là tĩnh tọa tư duy cũng không nên tạm bỏ pháp bất tư nghì đây. Đây chính là y pháp thọ trì. Cho nên trước lập mười nguyện, nay đây hiển thị mười thừa, tức là pháp được nguyện. Nay đã y nơi đây mà tu hành tức là sơ tâm tu tướng. Văn sau nói rằng: Có phương tiện quán tuệ thì quả vị mười địa sẽ khắc được không khó, tức phần tướng chứng viên mãn, tức là phần tướng chứng đủ đầy, khi quán thành sẽ tợ phát. Chuẩn theo liệt kê trước sau ý đã hiển nhiên. Nếu chưa có cái am tường sâu thẳm của một chuyên gia giáo quán thì cần phải gần bậc minh sư để khai thị chỗ giải hành mới biết chánh tà. Cho nên ngũ duyên tứ hoặc có thể thiếu, như duyên thiện tri thức phải có đủ. Còn nếu ở chỗ không có thầy truyền trao thì nên tự tìm chỉ quán, nhưng phải cần phụ hành, nhất định phải thông cách quán mới có thể tu. Cẩn thận chớ có không thầy mà tự lập quy củ. Lại nữa nên biết, những điều đã nói ở trên là thể chú, lấy từ tông kinh làm thành quán hạnh vậy. Nếu luận về lực dụng của kinh này, có ai mà không nhiếp, có thiện nào mà không thâu? Cho nên vì người cầu Thanh văn thảy được chứng quả, cầu việc thế gian đều được toại ý mà lược hiển bày công đức bốn mươi tay; muốn cầu giàu sang, muốn cầu chức tước; trừ bệnh dữ hay cầu gặp bạn lành; muốn sanh tịnh độ hoặc hưởng vui cõi trời thảy đều được như nguyện. Cho đến trong kinh có dạy: "Người trì chú hoặc gió hay nước thấm lên người cũng không thọ đường ác, thường sanh trước Phật." Như hành giả chưa có thể tu quán, chỉ nên tin cho sâu, dứt hết mọi sự nghi ngờ, trì tụng y theo văn thì đời này và đời sau sẽ được lìa khổ được giải thoát. Cho nên trong sám Pháp Hoa được lập có hữu tướng an lạc hạnh không có nhập tam-muội chỉ cần trì tụng cũng có thể thấy được các sắc thượng diệu. Vì thế nên biết, sơ tâm nhập môn có nhiều loại, khi đã thâm ngộ rồi thì lý ứng xả cả hai. Duy nguyện dù là quan dân, Tăng tục, đối với pháp Tổng trì đây sanh tâm quyết định tín khởi tin tấn, nơi hạnh hữu tướng vô tướng ra sức tu hành, hiện đời chướng não đều trừ, Tịnh độ vãng sanh không mê lầm, rộng nói phần lợi ích có chép đầy đủ trong kinh.

Hết

 


chuaphogiac


Các tin đã đưa ngày :